All You Need Is Kill

Chương 4-2: Killer Cage (2)


Dịch giả: Maththunder

Không hề đơn giản để kể cho một người về chuyện mà bạn biết chuyện đó sẽ khiến người kia khóc. Và nếu Jin Yonabaru là người đó, vậy có nghĩa là bạn đang ngồi trên cái xuồng cao su bị thủng đáy giữa dòng nước lũ.

Lần trước hình như hơi gượng gạo quá. Tôi đã cố tìm cách tốt hơn để nói ra, nhưng tôi không tài nào nghĩ ra cách nào ngắn gọn và tử tế hơn để nói cho Rita biết rằng tôi cũng bị kẹt trong vòng lặp. Có lẽ tôi nói toạc ra có khi lại hay hơn. Chết tiệt, chẳng có ý tưởng nào hay ho cả.

Tôi không phải là người đặc biệt thông minh, và cái bộ não tí hon của tôi vẫn đang choán đầy cái suy nghĩ tại sao tôi vẫn không phá vỡ được vòng lặp dù mọi chuyện vẫn diễn ra theo kế hoạch. Tôi đã làm tất cả mọi thứ đúng theo những gì Rita bảo, nhưng giờ tôi vẫn ở đây, cái ngày trước khi bắt đầu trận chiến thứ 160.

Bầu trời trên sân huấn luyện số 1 vẫn trong xanh y như 160 lần trước đó. Mặt trời buổi 10h sáng thiêu đốt chúng tôi không chút khoan nhượng. Buổi tập thể hình vừa kết thúc, và những cái bóng đọng dưới chân chúng tôi nay được tô điểm thêm bằng từng giọt mồ hôi.

Tôi là một người hoàn toàn xa lạ với người con gái với mái tóc màu sắt rỉ cùng làn da quá nhợt nhạt với một người lính. Đôi mắt nai màu nâu kia chĩa vào tôi.

“Vậy anh muốn nói chuyện à. Có chuyện gì?”

Tôi đã hết thời gian suy nghĩ rồi, và trong đầu thì có ý tưởng nào hay ho đâu. Đáng ra tôi nên kéo cô ấy ra một chỗ riêng tư để nói chuyện trước buổi thể hình. Giờ thì quá muộn rồi.

Tôi nhìn Rita và nói mấy thứ lảm nhảm về trà xanh y hệt trước đó. Này, lần này có vẻ không tệ như lần trướng, tôi nghĩ. Có lẽ cô ấy sẽ không –– oh, fuck.

Nước mắt chảy thành dòng trên đôi má, nhỏ lách tách từng giọt dưới đáy cằm rồi vỡ tung ra khi rớt xuống lòng bàn tay mà tôi đưa ra để đón lấy chúng. Tôi vẫn còn nóng bừng bừng sau buổi tập, nhưng những giọt nước mắt ấy bỏng cháy như những viên đạn 20mm. Tim tôi đập thình thịch. Tôi cứ như một chàng học sinh cấp ba đang mời một cô bạn gái cùng nhảy. Kể cả trong trận chiến huyết áp của tôi cũng không lên cao tới mức này.

Rita túm lấy chân áo của tôi, siết chặt tới mức từng đầu ngón tay trắng bệch ra. Trên chiến trường tôi có thể thấy trước mọi bước di chuyển trước cả khi cô ấy có hành động gì, nhưng tại đây tôi hoàn toàn không chút manh mối. Tôi đã tự lập trình bản thân hòng tránh né cả ngàn đòn tấn công từ phía Mimic nhẹ nhàng như không, nhưng cái hệ điều hành này thực sự chả được cái tích sự gì khi tôi thật sự cần tới nó. Đầu óc tôi rối bời, cố tìm một lối thoát. Tôi tự hỏi không biết cái áo nơi cô ấy đang cầm đã ướt đẫm mồ hôi chưa.

Lần trước, tôi đã đứng như tượng nữ thần tự do cho tới khi Rita bình tĩnh lại và nói chuyện. Có lẽ sau khoảng mười lần như thế này nữa chuyện này sẽ thành thói quen mất. Tôi biết mình cần nói gì để làm cô ấy bình tâm lại khi nhẹ nhàng ôm cô ấy tựa vào vai tôi. Tuy nhiên điều đó đồng nghĩa với việc tôi sẽ làm giảm mối tương tác giữa người đầu tiên và duy nhất trên thế giới này hiểu tôi rõ ràng nhất. Có gì đó mách bảo tôi tốt nhất là cứ đứng đó mà chịu trận.

Yonabaru đang há hốc mồm nhìn chúng tôi cứ như một vị khách tham quan tới thăm sở thú há to miệng trước một con gấu đột nhiên đứng dậy và bắt đầu nhảy điệu van xơ. Ít nhất thì tôi cũng đã tìm ra cách khiến hắn ta ngậm mồm lại. Ferrell rất chi là tế nhị liếc nhìn đi chỗ khác, nhưng vẫn he hé nhìn lại. Và đó đại khái cũng là cách tất cả những người còn lại trong tiểu đội phản ứng. Trời ạ. Tôi là một con gấu đang khiêu vũ. Đừng nhìn chằm chằm mà. Đừng nói gì hết. Chỉ cần ném tiền lẻ vào cái lon và cút đi.

Bạn nên làm gì khi bạn lo lắng –– khỏa thân trước mặt mọi người chăng? Không, cái đó dành cho lúc bạn phải nói chuyện trước đám đông. Trong huấn luyện họ dạy chúng tôi để khiến bản thân bình tĩnh lại thì tốt nhất là nên nghĩ về thứ gì đó chúng tôi thích. Thứ gì đó khiến chúng tôi cảm thấy vui vẻ. Trong chiến đấu, đây hẳn sẽ là hồi ức tươi sáng nhất để mà ngẫm nghĩ lại, vậy tại sao giờ tôi lại căng thẳng thế này? Nếu Chúa thật sự có câu trả lời thì ông ta cũng chẳng thèm mở miệng ra đâu.

Tôi kéo Rita lại bằng cổ tay. Cô ấy trông rất bối rối.

“Tôi là Keiji Kiriya.”

“Rita. Rita Vrataski.”

“Tôi đoán tôi nên nói ‘Rất vui được gặp cô’.”

“Sao anh lại cười?”

“Ai biết. Chắc là do hạnh phúc, chắc vậy,” Tôi nói.

“Anh thật là một người kỳ lạ.” Khuôn mặt của Rita giãn ra.

“Thư giãn một chút nào.” Đôi mắt tôi nhìn về phía vai cô ấy. “Tôi có hai giờ đồng hồ. Cô sẵn sàng chưa?”

Rita và tôi hộc tốc chạy đi, để lại những gã còn lại trên sân gãi đầu như bị hủi. Chúng tôi băng qua hàng rào sân huấn luyện. Cơn gió phơn thổi từ đại dương khiến làn da chúng tôi mát lạnh. Suốt một hồi chúng tôi chạy chỉ vì được chạy. Bờ biển trải dài bên trái chúng tôi, làn nước xanh thẫm màu cô ban vươn xa bên ngoài hàng rào dây thép gai vô tích sự căng dọc bờ biển. Đại dương vẫn xanh màu trời vì chúng tôi đã tìm ra cách giữ lấy màu xanh ấy. Một con tàu tuần tra rẽ sóng tạo thành một vệt dài trắng xóa song song với lằn ranh phân cách bầu trời cùng đại dương.

Tiếng hét của những người lính nhạt nhòa dần và tan biến. Thứ âm thanh duy nhất còn sót lại là tiếng gầm của biển khơi, những âm thanh xáo trộn khi dày quân dụng đạp trên bê tông, tiếng tim đập siêu hỗn loạn của tôi và tiếng thở dài của cô ấy.

Tôi đột nhiên ngừng chạy và đứng sững lại, y hệt như khi chúng tôi đột ngột chạy đi ấy. Rita không thể phanh lại kịp và đâm sầm vào tôi. Hệ điều hành lại một lần nữa sập nguồn. Tôi bước vài bước trông rất kì. Rita thì trượt chân khi cố lấy lại thăng bằng. Chúng tôi tựa vào nhau để tránh ngã xuống. Bàn tay tôi vòng ra sau lưng Rita và tay cô ấy cũng ở sau lưng tôi.

Mọi nỗ lực điều chỉnh lại cho cân bằng bị cú va chạm làm cho hỏng bét. Làn da cô ấy tì vào người tôi cứ như vỏ giáp vậy. Một cảm giác thoải mái xâm chiếm mọi giác quan. Không có Chiến giáp, tôi hoàn toàn không chút phòng bị trước bất kỳ hóa chất rải rác nào trong không trung.

“Uh, xin lỗi.” Rita là người đầu tiên xin lỗi.

“Không, là lỗi của tôi. Tôi không nên dừng lại đột ngột.”

“Không. Ý tôi là, xin lỗi, nhưng ––“ cô ấy nói.

“Cô không cần phải xin lỗi đâu.”

“Tôi không phải đang muốn xin lỗi. Chỉ là –– anh có thể thả tay tôi ra không?”

“Ah–“ Một vết hằn đỏ nổi lên trên cổ tay Rita, nơi những ngón tay tôi bóp chặt. “Xin lỗi.”

Với tôi, Rita là một người bạn cũ, một người đồng chí trong vô vàn trận chiến. Nhưng với cô ấy, Keiji Kiriya là một người hoàn toàn xa lạ mà cô chỉ vừa mới gặp. Chẳng là gì khác ngoài một bóng hình mờ nhạt từ một khoảng thời không khác. Chỉ có mình tôi nhớ mãi không quên cảm giác thoải mái khi chúng tôi đứng tựa lưng vào nhau. Chỉ có mình tôi được trải nghiệm cảm giác từng luồng điện chạy dọc giữa chúng tôi khi đôi mắt hai người bọn tôi chạm nhau và hiểu được ý định của nhau trong tích tắc. Chỉ có tôi mới có cái thứ cảm giác mong đợi và khát khao ấy.

Trước khi tôi vào quân đội, tôi đã từng xem một chương trình nói về một người đàn ông yêu một người phụ nữ bị mất trí sau một tai nạn. Anh ta hẳn đã phải trải qua những thứ tôi đang trải qua lúc này. Vô vọng đứng nhìn tất cả những gì bạn yêu quý trong thế giới này bị cuốn bay theo làn gió trong lúc bạn chỉ có thể đứng nhìn và bất lực.

“Tôi…. chà…” Tôi thậm chí còn không biết phải nói gì với cô ấy lúc này, mặc dù đã có vòng lặp trước.

“Đây là cái ý tưởng thông minh của anh để đưa hai chúng ta tới đây phỏng?”

“Ừ. Chắc vậy.”

“Tốt thôi. Giờ chính xác thì ta đang ở đâu?” Rita quay gót và nhìn xung quanh.

Chúng tôi đang đứng trên một khoảng không rộng được rào một bên bởi lưới dây thép gai còn ba bên còn lại là hàng rào. Cỏ mọc lên một cách tài tình trên những khe nứt của bê tông, bao phủ diện tích gần mười ngàn mét vuông.

“Sân huấn luyện #3.”

Tôi đã thành công đưa cô ấy từ một sân huấn luyện tới một sân huấn luyện khác. Hay đấy. Tôi đã dành quá nhiều thời gian ở với Ferrell rồi. Tình yêu với huấn luyện của anh ấy sắp đạt đến mức bệnh thần kinh rồi, và nó còn bắt đầu lây sang tôi nữa chứ.

Rita quay về phía tôi. “Nơi này hoang vắng quá.”

“Xin lỗi.”

“Không, tôi thích sự trống vắng ở nơi đây.”

“Khẩu vị cô thật kỳ lạ.”

“Cái đó cũng gọi là khẩu vị à? Nơi tôi lớn lên trống vắng một cách tuyệt vọng. Chúng tôi còn chẳng có biển. Bầu trời ở đây –– thật tuyệt,” cô ấy nghiêng đầu và nói.

“Cô thích nó à? Bầu trời ấ?”

“Không phải bầu trời mà là cái màu của nó. Cái màu xanh lung linh mờ ảo ấy.”

“Thế vậy tại sao chiến giáp của cô lại màu đỏ?”

Một khoảnh khắc im lặng bao trùm lấy chúng tôi, rồi cô ấy nói tiếp.

“Bầu trời tại Pittsfield trống hoác. Cứ như màu của nước sau khi anh rửa cây cọ vẽ còn dính sơn xanh bên trên ấy. Cứ như tất cả nước dưới mặt đất lao lên bầu trời và bám dính trên đấy.” Tôi nhìn Rita. Cô ấy nhìn lại tôi, đôi mắt nâu dày nhìn tôi chằm chằm không dứt, “Xin lỗi. Quên những gì tôi vừa nói đi,” cô ấy nói.

“Sao thế?”

“Đó không phải là những điều Rita Vrataski nên nói.”

“Tôi không biết đấy.”

“Nhưng tôi biết.”

“Chà, tôi nghĩ nó cũng hay mà,” Tôi nói.

Rita mở lớn hai mắt. Trong một khoảnh khắc, chúng lóe lên cái gì đó chỉ của riêng Full Metal Bitch. Toàn bộ những phần còn lại trên mặt vẫn y như vậy. “Anh nói gì cơ?”

“Tôi nói nó nghe cũng hay mà.”

Cô ấy nhìn tôi đầy kinh ngạc. Mái tóc đỏ màu sắt rỉ bay phấp phới trước trán, và cô ấy đưa tay lên vuốt lấy nó. Tôi thoáng thấy đôi mắt cô ấy giữa những kẽ tay. Chúng lấp đầy những tia sáng kỳ lạ. Cô ấy trông như một cô gái với những mối tơ vò trong tim đang dần được tháo gỡ, một đứa trẻ bị lộ tẩy những lời nói dối trước ánh mắt sắc nhọn của mẹ.

Tôi mở lời phá vỡ sự im lặng kì dị. “Có gì không ổn sao?”

“Không.”

“Tôi không có trêu cô đâu. Đó chỉ là thứ tôi muốn nói. Chắc là tôi căn thời điểm không chuẩn.”

“Chúng ta đã từng có một buổi nói chuyện như thế này vào vòng lặp trước, đúng không? Nhưng chỉ có mình anh nhớ,” Rita nói.

“Ừ, tôi xin lỗi.”

“Không sao, tôi không phiền đâu,” cô ấy lắc đầu nói.

“Vậy thì có chuyện gì?”

“Hãy nói cho tôi nghe xem anh định làm gì.”

“Chà, có rất nhiều thứ tôi vẫn chưa hiểu,” Tôi nói. “Tôi cần cô giải thích làm thế nào để kết thúc vòng lặp, đủ dễ hiểu cho người mới bắt đầu.”

“Tôi đang hỏi anh định làm gì tiếp theo để khiến tôi đỡ nhọc công phải nghĩ về chuyện đó.”

“Cô đùa à?” Tôi hỏi.

“Tôi cực kỳ nghiêm túc đấy.”

“Nhưng cô là Rita Vrataski. Cô luôn biết mình phải làm gì.”

“Sẽ rất vui khi trở thành người đứng ngoài vòng lặp một lần chứ sao.”

“Tôi thì không mấy vui vẻ đâu,” Tôi nói. Tôi tự hỏi ý cô ấy là gì khi nói “sẽ”; Tôi nghĩ cô ấy đã được giải thoát khỏi vòng lặp rồi, sau 211 lần trải qua 30 tiếng tại Florida. Tôi há miệng định hỏi, nhưng cô ấy cắt ngang.

“Tôi nghĩ tôi được quyền ngồi không và quan sát một lần chứ,” cô ấy nói. “Tôi đã phải chịu đựng quá nhiều rồi. Lần này tới lượt anh. Anh nên chấp nhận sự thật sớm đi thì hơn.”

Tôi thở dài. “Được rồi.”

“Này, đừng trách tôi chứ.”

“Chà, nếu vậy, giờ thì vẫn hơi sớm, nhưng điểm dừng tiếp theo của tôi là căn tin. Tôi hy vọng cô có tâm trạng thưởng thức đồ ăn Nhật.”

Căn tin đang vô cùng náo nhiệt. Tại một góc, một nhóm lính tráng đang nhìn xem ai là người chống đẩy được nhiều nhất trong ba phút. Một nhóm khác chúng tôi đi ngang qua thì đang chơi trò thi ăn với một thứ chất lỏng thần bí trông như một hỗn hợp của nước sốt cà, mù tạt và nước cam. Tại phía đằng xa nơi cuối căn phòng có vài gã đang hát dân ca và nhạc cổ truyền –– hoặc ít nhất cũng là một bài nhạc nền anime cũ xưa–– thứ nổi tiếng ít nhất bảy mươi năm trước, được đệm bằng đàn banjo. Một trong những giáo phái của lũ người phản động đã dùng nó làm bài ca phản đối chiến tranh, nhưng các vấn đề chi tiết không phải là thứ khiến những gã tại UDF quan tâm. Giai điệu dễ nhớ, chỉ cần thế là đủ để trở thành một bản hit với một đống lính Chiến giáp.

Hãy cùng đi– lính!

Hãy cùng đi– lính!

Hãy cùng đi– lính!

Và tự mình giết vài mống!

***

Tôi đã xem cảnh này 159 lần. Nhưng từ khi tôi bị kẹt trong vòng lặp, tôi rất hiếm khi để ý tới những chuyện tại thế giới thực mà không ảnh hưởng trực tiếp tới tôi. Tôi ngồi yên lặng tại một góc nhỏ trong căn tin, cách âm tốt, máy móc nhét thức ăn vô vị vào miệng.

Kể cả trận chiến ngày mai có diễn ra tốt đẹp, vẫn sẽ có vài người lính tại đây chẳng thể quay về. Nếu diễn ra không tốt, số người có thê quay về sẽ còn ít hơn. Ai cũng biết điều đó. Bộ binh trọng giáp là ông già Noel, và chiến trận là lễ giáng sinh của chúng tôi. Những tinh linh còn có thể làm gì trong ngày Giáng sinh nữa ngoài xõa tóc ra và uống một chút rượu đánh trứng.

Rita ngồi đối diện với tôi, ăn bữa ăn trưa giống như 160 lần trước. Cô ấy thử nghiệm món mơ muối lần thứ 160.

“Có chuyện gì à?”

“Mơ muối. Đó là mơ ­­–– người ta gọi nó là quả mận, nhưng nó giống quả mơ hơn –– sấy khô dưới ánh mặt trời, và rồi cô đem nó đi ngâm. Ăn thử đi.”

“Nó có vị ra sao?”

“Thức ăn cũng như chiến trường. Cô phải tự cảm nhận thôi.”

Cô ấy cố gắp hai tới ba lần bằng đũa, rồi mặc kệ hết thảy và bỏ cả quả vào miệng. Vị chua tràn ngập khoang miệng cứ như cơ thể bị nổ tung trước một tay đấm hạng cân nặng và cô ấy bị bẻ người cong oằn, lấy tay ôm lấy cổ họng và ngực. Tôi như thấy từng thớ cơ co giật sau lưng cô ấy.

“Thích không?”

Rita chu môi lên mặc dù chẳng ngước lên trên. Cổ của cô căng lên. Có gì đó bay ra khỏi miệng cô –– một hạt mơ sạch bong kin kít đáp xuống cái khay. Cô lấy tay chùi khóe miệng và hít thở sâu.

“Chả chua tí nào.”

“Ở căn tin này người ta đã cố tình muối cho bớt chua đi đấy,” Tôi nói. “Quá nhiều người nước ngoài ở đây mà. Hãy đến thử một vùng địa phương nếu cô muốn hàng thật.”

Tôi gắp một quả mơ muối từ cái khay và đút vào miệng. Tôi nhấm nháp hương vị cứ như thưởng thức một tách cà phê. Nói thật, nó chua tới mức khiến miệng tôi vặn vẹo méo mó, nhưng tôi sẽ không để cô ấy được thỏa mãn khi thấy cảnh đó đâu.

“Khá ngon.” Tôi chắt lưỡi.

Rita đứng dậy, mặt đầy nghiêm nghị. Cô để mặc tôi ngồi trên bàn rồi đi ra chỗ hành lang giữa hai dãy bàn, đi ngang qua mấy thằng lính và đi tới quầy phục vụ. Tại đó, Rachel đang nói chuyện với một con gorilla có thể vươn tay chạm tới trần nhà mà không cần phải nhón chân quá sức – vẫn con gorilla từ vòng lặp #4, cái con đã đấm vào hàm tôi trong tất cả những vòng lặp trước. Người đẹp và Quái thú trông ngạc nhiêm một cách khó hiểu khi thấy chủ đề trong cuộc nói chuyện của họ đi thẳng tới chỗ họ. Toàn bộ căn tin dường như đều thấy có gì đó đang căng lên; những cuộc chém gió tạm ngưng, và nhạc banjo ngừng lại. Cảm ơn Chúa.

Rita đằng hắng để trong giọng. “Cho tôi ít hạt mận khô được không?”

“Mơ muối?”

“Ừ, chính nó.”

“Chà, được thôi, nếu cô thích.”

Rachel lấy ra một cái đĩa nhỏ và bắt đầu đổ đầy nó bằng món mơ muối từ một cái xô bằng nhựa to.

“Tôi không cần cái đĩa.”

“Gì cơ?”

“Thứ cô đang cầm bằng tay phải. Vâng, là cái xô. Tôi sẽ lấy tất cả chúng.”

“Um, người ta thường không ăn nhiều đến thế trong một lần,” Rachel nói.

“Đó là vấn đề à?”

“Không, chắc vậy– “

“Cảm ơn vì đã giúp đỡ.”

Cầm cái xô trên tay, Rita hân hoan quay lại. Cô ấy thả cái phịch xuống ngay giữa cái bàn trước mặt tôi.

Đường kính miệng xô khoảng ba mươi centimet – một cái xô to tổ bố đủ mơ muối cho khoảng hai trăm người, do chẳng có ai muốn nhiều hơn một quả – được gói hờ trên nóc bằng tờ giấy dầu với dòng chữ đỏ rực mơ muối. To tới mức có thể dìm chết cả một con mèo nhỏ. Cuống lưỡi tôi tê rần khi vừa nhìn thấy nó. Rita đi lấy đôi đũa.

Cô ấy lôi ra một hạt nhăn nheo và đỏ au từ trong xô và đút vào miệng mình. Cô ấy nhai, cô ấy nuốt. Hạt rơi ra khay.

“Chả chua tí nào.” Mắt cô ấy ngân ngấn nước.

Rita đẩy cái xô về phía tôi. Tới lượt của tôi. Tôi chọn quả bé nhất tôi tìm thấy được và bỏ vào miệng. Tôi ăn vào và nhả hạt ra.

“Tôi cũng thấy vậy.”

Chúng tôi đang chơi trò thi ăn của riêng mình. Đầu đũa của Rita rung lên khi cô chọc chúng vào lại trong hũ. Cô nỗ lực hai lần để gắp một quả mơ muối khác bằng đũa trước khi từ bỏ và dùng một cây đũa đơn chọc vào hạt mơ, đưa lên miệng. Nước ngâm chảy long tong từng giọt màu tím, bôi bẩn cái khay khi chúng rơi xuống.

Đám đông những kẻ thích hóng hớt bắt đầu tụ tập quanh chúng tôi. Ban đầu họ quan sát trong im lặng một cách gượng gạo, nhưng cơn phấn khích nổi lên một cách đáng kể trước mỗi hạt được nhả ra khay.

Mồ hôi nhễ nhại trên da chúng tôi như những giọt nước đọng bên ngoài lon bia lạnh trong những ngày nóng nực. Rachel đang đứng ở một bên, quan sát toàn bộ với một nụ cười lo lắng trên môi. Tôi nhận ra anh bạn ở đội #4 đang ở trong đám đông nữa. Anh ta đang rất khoái trá ngắm nhìn tôi chịu đựng cái trò này. Mỗi lần Rita hay tôi bỏ một hạt vào miệng, một tràng cổ động sôi trào giữa đám đông.

“Coi nào, ăn tiếp đi!”

“Không còn đường lui đâu, cố mà nuốt đi!”

“Mày không định để con bé con này thể hiện đó chứ?”

“Fuck, mày nghĩ hắn có thể hạ gục Rita à? Mày điên rồi!”

“Ăn đi! Ăn đi! Ăn đi!”

“Để ý mấy cánh cửa, đừng để ai can thiệp vào! Tao đặt mười đô cho thằng gầy!” ngay tức khắc có gã theo cược, “Hai mươi cho Rita!” Rồi có ai đó hét lên, “Con tôm của tôi đâu? Tôi làm mất con tôm của tôi rồi!”

Nóng. Ầm ỹ. Và không chỉ thế, không hiểu vì lý do gì, tôi cảm thấy như ở nhà. Có một mối liên kết vô hình chỉ có ở đây mà không ở những vòng lặp trước. Tôi cảm giác được ngày mai sẽ ra sao, và đột nhiên tất cả những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống của chúng tôi, những điều vụn vặt trong ngày, đột nhiên đóng một vai trò hết sức quan trọng. Chỉ vừa nãy thôi, tôi có cảm giác bị vây quanh bởi đám đông này cũng không quá tệ.

Cuối cùng, chúng tôi ăn hết sạch tất cả những viên mơ muối trong hũ. Rita ăn viên cuối cùng. Tôi khăng khăng bảo đó là một trận hòa, nhưng do Rita ăn trước nên cô nhất quyết cho rằng mình thắng. Khi tôi phủ nhận, Rita cười rất gian và đề nghị giải quyết chuyện này bằng cách lấy thêm một hũ nữa. Khó mà nói được nụ cười đó nghĩa là cô ấy có thể ăn tiếp hay do bị quá tải vị chua nên đầu óc cô đã hơi chập chập một chút. Con gorilla ở đội #4 mang thêm một hũ đầy mơ đỏ từ Địa ngục ra và thả cái phịch xuống giữa bàn.

Đến lúc đó, tôi có cảm giác từ thắt lưng mình trở xuống chỉ toàn là mơ muối. Tôi đành vẫy cờ trắng.

Sau đó, tôi kể cho Rita nghe về mọi thứ – Yonabaru người không bao giờ ngậm mồm lại được, Trung sĩ Ferrell và niềm đam mê luyện tập của anh ta, mâu thuẫn giữa chúng tôi và đội #4. Về phần mình, Rita kể cho tôi nghe những chuyện cô vẫn chưa kịp kể trong vòng lặp trước. Khi không khoác bộ Chiến giáp của mình, con Bitch kia mang một nụ cười ngượng ngùng hợp với mình hơn. Đầu ngón tay của cô nồng nặc mùi dầu, nước ngâm mơ, và mơ hồ trong đó chút vị cà phê.

Tôi không biết tôi đã thiết lặp sự kiện gì hay bằng cách nào, nhưng trong vòng lặp thứ 160 này mối quan hệ giữa tôi và Rita sâu sắc hơn bao giờ hết. Buổi sáng tiếp theo, Hạ sĩ Jin Yonabaru không thức dậy ở giường trên. Hắn ta thức dậy trên sàn nhà.


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.